11. Điệp Con Cúng Cho Mẹ II

(Tư Độ Vãng Sanh)

 

Nguyên văn:

 

資度  爲牒薦事。茲據

越南國......()......村、家居奉

佛修香諷經...之晨祈超度事。今... 等、維日謹以金銀香花齋饌庶品菲禮之儀、恭薦于

奉爲...香靈

嗚呼、劬勞德重、三年乳哺之恩、養育恩深、十月懷胎之苦、親萱先逝於難酬、道大情深之未報、今憑廣佛以無邊、願薦親靈之超度。兹者... 之晨、虔仗六和之念、諷誦大乘法寶經文、加持徃生淨土神咒、集此良因、祈生樂國。今則儀筵完滿、法事云終、薦牒宣揚、香靈收執。

惟願、不墮四生、托質蓮花之母、免隨六道、恆遊寶樹之堦。須至牒者。

右牒薦  

香靈冥中收執。故牒。

.........日時 、請薦牒

 

Phiên âm:

 

Tư Độ Vãng Sanh Vị điệp tiến sự.

Tư cứ: Việt Nam Quốc ... Tỉnh, … Huyện (Quận), … Xã, … Thôn, gia cư phụng Phật tu hương phúng kinh ... chi thần, kỳ siêu độ sự. Kim ... đẳng, cẩn dĩ kim ngân hương hoa trai soạn thứ phẩm phỉ lễ chi nghi, cung tiến vu:

Phụng vị ... chi hương linh.

Ô hô ! Cù lao đức trọng, tam niên nhũ bộ1 chi ân; dưỡng dục ân thâm, thập nguyệt hoài thai2 chi khổ; thân huyên3 tiên thệ ư nan thù, đạo đại tình thâm chi vị báo; kim bằng quảng Phật dĩ vô biên, nguyện tiến thân linh chi siêu độ. Tư giả ... chi thần, kiền trượng Lục Hòa chi niệm; phúng tụng Đại Thừa pháp bảo kinh văn, gia trì Vãng Sanh Tịnh Độ Thần Chú; tập thử lương nhân, kỳ sanh Lạc Quốc. Kim tắc nghi diên hoàn mãn, pháp sự vân chung; tiến điệp tuyên dương, hương linh thu chấp.

Duy nguyện: Bất đọa Tứ Sanh,4 thác chất Liên Hoa chi mẫu; miễn tùy Lục Đạo,5 hằng du bảo thọ chi giai. Tu chí điệp giả.

Hữu Điệp Tiến

Hương linh minh trung thu chấp. Cố điệp.

Tuế thứ ... niên ... nguyệt ... nhật thời. Thỉnh tiến điệp.

 

Dịch nghĩa:

 

Giúp Được Vãng Sanh điệp xin dâng cúng.

Nay căn cứ: việc gia đình hiện ở tại Thôn ..., Xã …, Huyện (Quận) …, Tỉnh …, nước Việt Nam thờ Phật dâng hương tụng kinh nhân dịp ... cầu xin siêu độ. Nay có ... v.v., kính lấy nghi lễ mọn vàng bạc, hương hoa, cỗ chay, các thứ dâng cúng cho:

Kính vì hương linh ...

Than ôi ! Lao nhọc đức nặng, ba năm bú mớm nghĩa ơn; nuôi dưỡng ơn sâu, mười tháng mang thai cực khổ; mẹ hiền đi rồi thật khó đền, đạo lớn tình sâu còn chửa báo; nay nhờ đức Phật ấy vô biên, nguyện cúng hương linh được siêu độ. Hôm nay gặp lúc ..., nương sức chúng tăng hộ niệm, trì tụng Đại Thừa pháp báu kinh văn, gia trì Thần Chú Vãng Sanh Tịnh Độ; lấy nhân lành này, cầu sanh Cực Lạc. Đến nay nghi cúng hoàn mãn, pháp sự vẹn toàn; điệp cúng tuyên bày, hương linh nhận lấy.

Cúi mong: Chẳng đọa Bốn Đường, thác sanh Hoa Sen thai mẹ; miễn theo Sáu Nẻo, thường chơi cây báu bên thềm. Kính dâng điệp nầy.

Kính Điệp Cúng

Hương linh nơi cõi âm nhận lấy. Kính điệp.

Ngày ... tháng ... năm ... Điệp thỉnh cúng.

 

Chú thích:

  1. Tam niên nhũ bộ (三年乳哺): ba năm trường mẹ cho con bú và mớm cơm cho con ăn. Trong Địa Mẫu Kinh (地母經) của Đạo Giáo có câu: “Thùy phi phụ mẫu sanh, thập nguyệt hoài thai khổ, tam niên nhũ bộ tân (誰非父母生、十月懷胎苦、三年乳哺辛, ai là người không phải do cha mẹ sanh ra, mười tháng mang thai cực khổ, ba năm cho con bú mớm nhọc nhằn).” Hơn nữa, trong Tây Du Ký (西遊記), hồi thứ 78 cũng có đoạn: “Thiên vô nhị nhật, nhân vô nhị lý, dưỡng dục hài đồng, phụ tinh mẫu huyết, hoài thai thập nguyệt, đãi thời nhi sanh, sanh hạ nhũ bộ tam niên, tiệm thành thể tướng, khởi hữu bất tri chi lý (天無二日、人無二理、養育孩童、父精母血、懷胎十月、待時而生、生下乳哺三年、漸成體相、豈有不知之理, trời không có hai mặt trời, người không có hai lý, nuôi dưỡng con nhỏ, tinh cha huyết mẹ, mang thai mười tháng, đợi đến lúc sanh con, sanh xong cho bú mớm ba năm, dần dần thành hình tướng, liệu làm sao chẳng biết lý ấy).” Hay như trong Khuyến Phát Bồ Đề Tâm Văn (勸發菩提心文, Tục Tạng Kinh, Vol. 58, No. 1010) của Tỉnh Am Đại Sư (省庵大師, 1686-1734) có câu: “Vân hà niệm phụ mẫu ân ? Ai ai phụ mẫu, sanh ngã cù lao, thập nguyệt tam niên, hoài thai nhũ bộ (云何念父母恩、哀哀父母、生我劬勞、十月三年、懷胎乳哺, thế nào là nhớ đến công ơn cha mẹ ? Thương thay cha mẹ, sanh ta khó nhọc, mười tháng ba năm, mang thai bú mớm).”
  2. Thập nguyệt hoài thai (十月): mười tháng mang thai. Kinh Báo Ân Cha Mẹ (bản dịch Việt ngữ của Hòa Thượng Thích Trí Quang) ghi rõ chi tiết quá trình mang thai 10 tháng của người mẹ như thế nào: “A Nan, mười tháng mang thai, mẹ rất khổ sở. Thai mang một tháng mới như hạt sương rơi trên cỏ, tụ tán mong manh. Hai tháng mới như ván sữa. Ba tháng mới như huyết đọng. Bốn tháng mới tụ hình người. Năm tháng mới có đầu, hai tay và hai chân. Sáu tháng các giác quan mới khai tượng. Bảy tháng gân cốt lông da mới có. Tám tháng mới có lục phủ ngũ tạng. Chín tháng mới thành thai nhi, hấp thụ nguyên khí của mẹ mà sống. Qua tháng thứ mười mới khởi sự chuyển sinh. Nếu là hiếu thuận thì hài nhi xuôi tay mà ra, không thương tổn mẹ. Nếu là ngỗ nghịch thì cào cấu đạp phá thai bào, làm mẹ đau đớn vạn trạng. Nên thân này sinh được thật là may mắn phước đức.” Trong Quán Vô Lượng Thọ Phật Kinh Sớ (觀無量壽佛經疏, Taishō Vol. 37, No. 1753) quyển 2 có đoạn: “Phật hậu thành đạo, chí tứ nguyệt thập ngũ nhật, tức hướng Đao Lợi Thiên nhất hạ vị mẫu thuyết pháp, vị báo thập nguyệt hoài thai chi ân(佛後成道、至四月十五日、卽向忉利天一夏爲母說法、爲報十月懷胎之恩爲, sau khi đức Phật thành đạo, đến ngày rằm tháng tư, Ngài liền đi lên cung trời Đao Lợi Thiên, vì mẹ thuyết pháp trong một mùa Hạ, để báo đáp ơn mười tháng mang thai).”
  3. Thân huyên (親萱): Từ chỉ cho người mẹ. Huyên () là loại cây cỏ sống lâu năm, Huyên Thảo (萱草) là loại Kim Châm (金針), tương truyền khi ăn vào thì làm cho người ta quên đi ưu sầu, phiền muộn; nên được gọi là Vong Ưu Thảo (忘憂草, Cỏ Quên Buồn) và thường được dùng thay thế cho người mẹ. Nơi người mẹ cư ngụ được gọi là Huyên Đường (萱堂), tức là nơi có trồng nhiều loại cỏ Huyên để giúp cho mẹ quên đi mọi ưu phiền. Cho nên “thân huyên dĩ thệ (親萱已逝)” có nghĩa là mẹ hiền đã qua đời.
  4. Tứ Sanh (s: catarso-yonaya, p: catasso yoniyo, 四生): bốn hình thức sinh sản của chúng hữu tình trong Ba Cõi, Sáu Đường, gồm có: (1) Noãn Sanh (s, p: aṇḍaja-yoni, 卵生): loài sanh ra từ trứng như gà, rắn, cá, kiến, v.v. (2) Thai Sanh (s: jarāyujā-yoni, p: jalābu-yonija, 胎生): loài hữu tình được sanh ra từ thai mẹ như người, voi, ngựa, trâu, khỉ, lợn, dê, v.v. (3) Thấp Sanh (s: sasvedajā-yoni, p: saseda-yonija, 濕生): là loài sanh ra từ những nơi khí ẩm thấp như nhà xí hôi hám, thịt thối, cỏ cây, v.v., như sâu bọ, mối, v.v. (4) Hóa Sanh (s: upapādukā-yoni, p: opapātika, 化生): là loài do biến hóa mà sanh ra như chúng hữu tình trên cõi trời hay dưới Địa Ngục. Như trong Từ Bi Địa Tạng Sám Pháp (慈悲地藏懺法, Tục Tạng Kinh Vol. 74, No. 1487) quyển Thượng có câu: “Tùy thuận vọng tập, vãng phục Tứ Sanh, nghịch sanh tử lưu, mê luân khổ hải, vô giải thoát kỳ (隨順妄習徃復四生逆生死流迷淪苦海無解脫期, theo thói quen sai, qua lại Bốn Loài, ngược dòng sanh tử, trầm luân biển khổ, không kỳ giải thoát).” Hay trong Ứng Am Đàm Hoa Thiền Sư Ngữ Lục (應菴曇華禪師語錄, Tục Tạng Kinh Vol. 69, No. 1359) quyển 3 có đoạn: “Phổ nhập nhất thiết chúng sanh thân nội, toàn chúng sanh chi bệnh, nhập đại giải thoát môn, chứng Vô Sanh Pháp Nhẫn, thỉ khả tân tế Tứ Sanh, thê hàng Cửu Hữu (普入一切眾生身內全眾生之病入大解脫門證無生法忍始可津濟四生梯航九有, khắp vào trong thân của hết thảy chúng sanh, tất cả bệnh của chúng sanh, nhập vào cửa giải thoát lớn, chứng Vô Sanh Pháp Nhẫn, mới bắt đầu có thể cứu độ Bốn Loài, vớt giúp Chín Loại).”
  5. Lục Đạo (s: a-gati, j: rokudō, 六道): hay còn gọi là Lục Thú (六趣), là 6 thế giới trong đó chúng sanh luân hồi lưu chuyển sanh tử do nghiệp nhân thiện ác mình đã từng tạo ra, gồm có: (1) Địa Ngục (s, p: naraka, 地獄), (2) Ngạ Quỷ (s: preta, p: peta, 餓鬼), (3) Súc Sanh (s; tiryagoni, p: tiracchāna, 畜生), (4) Tu La (s, p: asura, 修羅), (5) Con Người (s: manuya, p: manussa, 人間) và (6) Cõi Trời (s, p: deva, ). Cũng có truyền thuyết theo thứ tự Địa Ngục, Súc Sanh, Ngạ Quỷ và quan điểm gộp chung Tu La vào Địa Ngục để trở thành Ngũ Đạo (五道). Gati vốn phát xuất từ động từ √gam, nguyên ý là “sự đi, con đường”, được dịch là “đạo ()” hay “thú ()”; tuy nhiên, trường hợp Lục Đạo thì có nghĩa là “cảnh giới, trạng thái sinh tồn”. Kết hợp với Tứ Sanh (四生), có dụng ngữ Lục Đạo Tứ Sanh (六道四生). Lục Đạo là tổng thể phân loại về 4 hình thức sanh ra gồm thai sanh, noãn sanh, thấp sanh và hóa sanh, từ đó nó bao quát hết toàn bộ tồn tại luân hồi. Luân hồi trong Lục Đạo được gọi là Lục Đạo Luân Hồi (六道輪廻). Từ khi Phật Giáo được truyền vào Trung Quốc dưới thời Hậu Hán, quan niệm về Luân Hồi và Lục Đạo được tuyên truyền rộng rãi trong xã hội nước nầy và trở thành tác động to lớn đối với người dân Trung Quốc vốn mang chủ nghĩa hiện thế trung tâm. Đặc biệt, sức mạnh báo động có hình ảnh Địa Ngục đã sản sinh ra những đồ hình biến tướng của Địa Ngục vốn miêu tả thảm cảnh ở cõi nầy, các Minh Báo Ký (冥報記) lưu truyền những câu chuyện bị đọa xuống Địa Ngục, hay văn học truyền khẩu, v.v; và tạo ảnh hưởng rộng rãi cho mỹ thuật cũng như văn học. Chính Đạo Giáo cũng lấy tư tưởng Lục Đạo của Phật Giáo để hình thành nên quan niệm Lục Đạo tương tợ như vậy. Hơn nữa, quan niệm cho rằng phạm tội ở đời nầy sẽ bị luân hồi trong Lục Đạo đã trở thành cơ duyên làm cho mọi người thức tỉnh về tội nghiệp của tự thân; cho nên, dưới thời đại Nam Bắc Triều, rất nhiều bản văn sám hối cầu nguyện cho tội lỗi tiêu trừ đã được sáng tác ra. Khi tư tưởng mạt pháp từ cuối thời Nam Bắc Triều cho đến thời Tùy Đường được quảng bá, niềm tin về Đức A Di Đà Phật (阿彌陀佛), Địa Tạng (地藏), Quan Âm (觀音) cứu độ chúng sanh thoát khỏi cảnh khổ bị luân hồi trong Lục Đạo trở nên rất thịnh hành. Từ thời Ngũ Đại cho đến nhà Tống, trên các bức bích họa ở động Đôn Hoàng (敦煌) thỉnh thoảng xuất hiện hình Lục Đạo. Trong Thiên Thai Tông, tín ngưỡng về Lục Quan Âm (六觀音) được phối trí theo từng cảnh giới của Lục Đạo cũng khá phổ biến. Tại Nhật Bản, từ Lục Đạo, Địa Ngục, v.v., xuất hiện đầu tiên trong Nhật Bản Linh Dị Ký (日本靈異記, Nihonryōiki), nếu so sánh thì quan niệm về Lục Đạo rất lạc quan. Tuy nhiên, đến thế kỷ thứ 10, theo đà băng hoại của Chế Độ Luật Lịnh, trong những biến động và chiến loạn của xã hội, tư tưởng mạt pháp và quán sát vô thường càng mạnh hơn thêm; từ đó, quan niệm về Lục Đạo trở nên nghiêm trọng hơn. Đặc biệt, trong phần Lục Đạo Giảng Thức Vãng Sanh (六道講式徃生) của bộ Vãng Sanh Yếu Tập (徃生要集, Ōjōyōshū) cũng như Nhị Thập Ngũ Tam Muội Thức (二十五三昧式), Nguyên Tín (源信, Genshin) có miêu tả về sự khủng khiếp của Lục Đạo và đã tạo ảnh hưởng khá lớn cho văn học cũng như mỹ thuật. Do đó, Bảo Vật Tập (寶物集, Hōbutsushū) nói về nỗi khổ của Lục Đạo và khai thị 12 cửa vãng sanh, Bình Gia Vật Ngữ (平家物語, Heikemonogatari) lấy sự sa thải của Lục Đạo trong Quán Đảnh Quyển (灌頂巻) để làm nội dung cho toàn quyển, hay Phương Trượng Ký (方丈記, Hōjōki) làm cho liên tưởng đến những nghiệp khổ trong ác đạo thông qua các thiên tai như hỏa tai, gió lớn, nghèo đói, động đất, v.v., đều là những tác phẩm có ảnh hưởng sâu đến tư tưởng Lục Đạo. Mặt khác, từ giữa và cuối thời Bình An trở đi, các bức tranh bình phong cũng như tranh vẽ về Lục Đạo được phổ biến rộng rãi. Hiện còn lại một số tác phẩm tiêu biểu như Địa Ngục Thảo Chỉ (地獄草紙, Jigokusōshi), Ngạ Quỷ Thảo Chỉ (餓鬼草紙, Gakisōshi), Bệnh Thảo Chỉ (病草紙, Yamaisōshi), v.v., thuộc hậu bán thế kỷ 12. Hơn nữa, vào thời kỳ biến động và chiến loạn, tín ngưỡng về Lục Quan Âm cũng như Địa Tạng phát triển rộng khắp. Đặc biệt, Địa Tạng được gọi là “bậc có thể hóa độ chốn Lục Đạo”, đến thế kỷ thứ 11 thì tín ngưỡng Lục Địa Tạng cho rằng ngài có mặt khắp các cõi để cứu độ hết thảy chúng sanh, được hình thành. Đến cuối thời Liêm Thương trở đi, kết hợp với Thần Tạ Ơn, Thần Tổ Đạo, tại các ngã tư đường cũng như cửa vào mộ địa, người ta có đặt 6 bức tượng Địa Tạng. Những ngã tư như vậy được xem như là nơi người chết phân chia theo sáu đường, cho nên có tên gọi là “Ngã Tư Lục Đạo”. Như trong Phật Thuyết Dự Tu Thập Vương Sanh Thất Kinh (佛說預修十王生七經, Tục Tạng Kinh Vol. 1, No. 21) có câu: “Bi tăng phổ hóa thị uy linh, Lục Đạo luân hồi bất tạm đình, giáo hóa yếm khổ tư an lạc, cố hiện Diêm La Thiên Tử hình (悲增普化示威靈、六道輪迴不暫停、敎化厭苦思安樂、故現閻羅天子形, buồn thêm hóa độ hiện oai linh, sáu nẻo luân hồi chẳng tạm dừng, giáo hóa bỏ khổ vui an lạc, nên hiện Diêm La Thiên Tử hình).”